Thư mục

Thành viên trực tuyến

2 khách và 0 thành viên

Ảnh ngẫu nhiên

4aaf16cc_26eca12d_large_gal_499f17c2966351.jpg 980d3530562_309370645831469_792424533_n.jpg 20160118memanvuoncaycanhtrieudodepnhathathanh2.jpg 1358993359caycanh19.jpg 1461730377bonsai1.jpg 041120091124.jpg 53793777901588818863.jpg CaycanhtrieudoNTDthongthaiGiaoducVietNam1.jpg Hqdefault_1.jpg Tai_xuong.jpg Tai_xuong.jpg 4aaf16cc_26eca12d_large_gal_499f17c2966351.jpg 980d3530562_309370645831469_792424533_n.jpg 20160118memanvuoncaycanhtrieudodepnhathathanh2.jpg 1358993359caycanh19.jpg 1461730377bonsai1.jpg 041120091124.jpg 53793777901588818863.jpg CaycanhtrieudoNTDthongthaiGiaoducVietNam1.jpg Hqdefault_1.jpg

Chức năng chính

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Điều tra ý kiến

    Bạn thấy trang này như thế nào?
    Đẹp
    Đơn điệu
    Bình thường
    Ý kiến khác

    Hỗ trợ trực tuyến

    Sắp xếp dữ liệu

    Tản mạn về thư pháp

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Cấn Văn Thắm (trang riêng)
    Ngày gửi: 03h:18' 27-02-2014
    Dung lượng: 47.0 KB
    Số lượt tải: 4
    Số lượt thích: 0 người
    Tản mạn về thư pháp Việt Nam - từ truyền thống tới hiện đại
    
    
    
    
    Thư nghĩa là viết, Pháp nghĩa là phép tức là cách viết chữ hay phép viết chữ với nghĩa ban đầu là phương pháp viết chữ cho đúng, đều đặn, ngay ngắn. Theo thời gian, thư pháp đã vượt ra khỏi ý nghĩ của bản thân việc viết chữ và trở thành nghệ thuật viết chữ đẹp, nghệ thuật đi tìm cái đẹp, cái hồn nơi mỗi chữ mỗi câu.
    
    Đối với người phương Đông, khi nói đến thư pháp người ta nghĩ tới một kiểu viết chữ Hán với phong cách đặc biệt.
    Thư nghĩa là viết, Pháp nghĩa là phép tức là cách viết chữ hay phép viết chữ với nghĩa ban đầu là phương pháp viết chữ cho đúng, đều đặn, ngay ngắn. Theo thời gian, thư pháp đã vượt ra khỏi ý nghĩ của bản thân việc viết chữ và trở thành nghệ thuật viết chữ đẹp, nghệ thuật đi tìm cái đẹp, cái hồn nơi mỗi chữ mỗi câu
    Do vị trí địa lý cũng như điều kiện lịch sử, sự giao lưu văn hoá giữa Việt Nam và Trung Quốc và sự tiếp xúc về ngôn ngữ nên việc dùng chữ Hán làm văn tự chính thống là chủ yếu ở nước ta trong suốt giai đoạn văn hoá Đại Việt. Nhưng với sự sáng tạo của riêng mình, cha ông ta đã cho ra đời hệ thống âm Hán - Việt hoàn chỉnh, tách rời âm Hán gốc. Đó cũng là tiền đề cho sự ra đời hệ thống chữ Nôm.
    Thư pháp Việt Nam bao gồm hai dòng: thư pháp Hán - Nôm và thư pháp chữ Việt.
    Thư pháp Hán - Nôm ở Việt Nam có từ bao giờ, tuy chưa được xác định cụ thể nhưng chúng ta có di sản thư pháp chữ Hán, chữ Nôm do người Việt Nam chủ bút.
    Mỗi nhà nho xưa học văn chương bao giờ cũng bắt đầu bằng việc học viết chữ. Văn bao giờ cũng đi liền với chữ viết, bởi thế mới có câu "văn hay chữ tốt". Cao Bá Quát, Nguyễn Văn Siêu là một trong những gương sáng như thế, nổi danh là "Thần Siêu, Thánh Quát". Hai nguyên tắc cơ bản trong viết thư pháp là hình và thần mà qua đó thể hiện được chữ viết và là phương tiện để bày tỏ tâm thức con người. Dụng cụ không thể thiếu đó là: bút, nghiên, giấy, mực hay vẫn được gọi là "văn phòng tứ bảo".

    Nghệ thuật viết chữ Hán của người Việt luôn trong chừng mực; nét bút bay bổng tài hoa nhưng mô phạm sâu lắng, mềm mại nhưng không yếu đuối, phóng nhưng không cuồng. Điều đó thể hiện nền văn hoá Việt Nam khiêm tốn, mộc mạc nhưng không hề thiếu cá tính; không tìm cái phi thường mà tìm cái bình dị, gần gũi. Dễ nhận ra một điều rằng thư pháp Việt Nam mang tư tưởng "tài tử" (không chuyên nghiệp) bởi thư pháp Việt Nam phục vụ nhân dân, phục vụ quần chúng lao động. Nhắc tới thư pháp Việt Nam là ai ai cũng liên tưởng tới hình ảnh "ông đồ" đang "thảo những nét như phượng múa rồng bay" rất gần gũi chứ không phải hình ảnh một "thư pháp gia" nào đó. Chính vì vậy mà nhiều tác phẩm đi vào lòng người từ những rung cảm, cảm hứng có thật của của thi nhân, chẳng hề có gì là quý tộc, siêu phàm, khe khắt, chi li mà cái gì cũng mộc mạc, chân chất, giản dị.
    Thư pháp chữ Việt được bắt đầu khoảng 30 năm gần đây. Đây là sự sáng tạo rất đáng trân trọng, mang âm hưởng nguồn cội, là sự nối tiếp kế thừa của thư pháp truyền thống. Hình thức trình bày, bố cục tương tự như thư pháp chữ Hán; màu đen của mực tương phản với màu nền duy nhất; chữ quốc ngữ được bố trí trong khối tròn hoặc vuông. Nội dung chủ yếu vẫn xoay quanh tư tưởng đạo đức, nhân văn từ những câu đối, lời hay ý đẹp.
    Thư pháp chữ Việt hiện nay có 5 kiểu chữ chính: chữ chân phương, chữ cách điệu, chữ cá biệt (cuồng thảo), chữ mô phỏng, chữ mộc bản. Nhưng nhìn chung đều có tính biểu cảm, xuất phát từ bản tính người Việt trọng tình cảm, hiếu hoà nên ít có những nét mạnh mẽ, cứng nhắc mà nét bút khoan thai, bay bướm. Bên cạnh đó còn là tính linh hoạt không câu nệ khuôn sáo, nhấn mạnh một từ hay một ngữ trong câu mang nghĩa khái quát hay mượn nét ký tự giống nhau làm một. Các chất liệu làm nền cũng phong phú hơn: giấy dó, giấy mỹ thuật, giấy lụa, mành tre, gỗ...
    Thư pháp chữ Việt là sự kết hợp cái thần của chữ Hán và nét chữ quốc ngũ, là sự giao hoà giữa văn hóa Đông - Tây, giữa nghiên mực bút lông và mẫu tự La tinh đã nâng cao tầm quan trọng và làm thăng hoa
     
    Gửi ý kiến